Tut

Hậu kì ảnh Cinematic với tone màu ấm (P1)

Như đã hứa với một số bạn trên group Vietnam Cinematic, mình sẽ chia sẻ với mọi người quá trình xử lí một tấm ảnh để cho ra “Tone Cinematic.” Vì vừa mới kết thúc năm học nên giờ mới có thời gian để bình tĩnh ngồi xuống bàn và viết bài này. Cá nhân mình thích ảnh chân dung, đặc tả chi tiết nhân vật nên cách chỉnh màu của mình khi áp dụng vào thể loại ảnh khác như landscape, nature blah blah đôi lúc có thể “không phù hợp” vì mỗi tấm ảnh có điều kiện ánh sáng (ĐKAS) khác nhau, trừ khi ĐKAS ảnh của bạn giống y hệt ảnh của mình.

Khi chỉnh sửa một tấm ảnh, mình tuân thủ chặt chẽ 2 bước quan trọng sau đây: Color Correction (1)Color Grading (2). Nếu thiếu một trong hai bước thì dù có chỉnh sửa thế nào thì kết quả cũng chỉ là con số 0 tròn trĩnh mà thôi. Điều này không phải do kinh nghiệm của mình tích luỹ được mà do chính những Colorist nổi tiếng đúc kết lại trong quá trình chỉnh sửa và xử lí video, movie v.v. Tất nhiên điều này chỉ mang tính chất chủ quan vì không phải chỉ có một cách chỉnh sửa duy nhất để cho ra một tấm ảnh Cinematic. “Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome.” Có nhiều cách để xử lí một tấm ảnh; phụ thuộc vào sở thích và khẩu vị của từng người; vấn đề là bạn hãy chọn con đường ngắn nhất và tốt nhất cho mình. Những người đi trước họ đã vạch ra “con đường” đó rồi, công việc duy nhất của mình là follow nó thôi. (Các bạn muốn biết định nghĩa của 2 từ khoá này thì Google để biết thêm chi tiết; bài này mình sẽ chỉ tập trung vào cách chỉnh sửa màu theo phong cách Cinematic) Luyên thuyên vậy đủ rồi, bây giờ đi thẳng vào vấn đề luôn nhé!!!

*Color Correction

Tại sao Color Correction lại quan trọng đến như vậy? Trong nhiều trường hợp bức ảnh của bạn được chụp ở những nơi có ánh sáng thay đổi liên tục, bất thường và khó kiểm soát, việc kiểm soát và cân chuẩn màu (white balance, exposure) ngay trong máy xem chừng là một điều “bất khả thi.” Trong bài “Khái niệm tổng quát về dãy màu…” bác Mai Điền Quân có viết: “Chuẩn màu từ khi còn là hình gốc có nghĩa là các vùng màu như green, blue, cyan, red, yellow, v.v.v không bị overlay lẫn nhau (chồng lấp lên nhau). Khi những vùng màu này được phân định một cách gần như rõ rệt hoặc 100% tương phản mạnh thì rất tiện cho việc sau này bạn edit lại ảnh. Nó giúp bạn kiểm soát các vùng màu một cách dễ dàng. Nếu các bạn để các vùng màu chồng lên nhau quá nhiều thì khi edit lại ảnh các phần mềm xử lý ảnh sẽ không hiểu được và bạn sẽ không kiểm soát các kênh màu trong bức ảnh được.” Đúng như vậy, nếu như chuẩn màu từ ảnh gốc thì các bước tiếp theo dễ như ăn kẹo rồi; nhưng nếu không thì sao? Rất may là với công nghệ hiện nay, PTS cho phép ta cân chỉnh lại màu ảnh sao cho đúng với thực tế một cách tối ưu và hiệu quả nhất. Cá nhân mình thấy LR có phần hạn chế hơn PTS về phương diện Color Correction ví dụ như việc tìm điểm đen, trắng, midtone hay loại bỏ color cast trong bức ảnh. Sau đây là các bước mình xử lí một tấm ảnh:

  • Bước 1: Chọn công cụ eyedropper ở phía góc trái của Temp (bảng Basic). Bạn di chuyển mũi tên xung quanh ảnh đến khi nào tìm được ra điểm Neutral Gray thì nhấp chuột trái để chọn. Phần mềm sẽ tự động điều chỉnh thong số Temp và Tint cho mình. Neutral Gray là những vùng có thông số R (Red), G (Green), B (Blue) xấp xỉ hoặc giống nhau, nếu khác nhau hoặc chênh lệch lớn quá thì vùng đó sẽ xuất hiện color cast. Mục đích của bước này là tìm ra điểm Neutral Gray để loại bỏ phần nào color cast trong bức ảnh, nhưng không triệt để.
  • Bước 2: Giảm Constrast xuống khoảng -25 -> – 35, giảm Saturation xuống khoảng -10 -> -20 (Áp dụng cho ảnh RAW). Có một điều các bạn cần lưu ý, cài đặt Picture Control trong máy ảnh ở chế độ Standard và ở mức thấp nhất có thể cho dù nó không ảnh hưởng đến file RAW là mấy, nhưng rất thuận lợi khi bạn chụp cả RAW + JPEG. Nếu chỉnh sửa bằng JPEG với Picture Control Standard như mình nói ở trên thì bạn ko cần phải de-constrast hay desaturate ảnh. Mục đích ở đây là để cho ảnh càng flat (phẳng, thô, tương phản thấp) càng tốt, tránh việc mất chi tiết, thông tin ở vùng Shadow, sẽ rất thuận lợi cho bước 2 – Color Grading. Hình dưới đây là một ví dụ minh hoạ cho cái gọi là ảnh “flat”:

11347929_833586063387525_937566701_o

*Color Grading.

Ảnh RAW dưới đây đã được giảm Constrast và Saturation:

4

Khi color grading ảnh, mình thường bắt đầu theo thứ tự sau đây:

  • Tone Curve
  • Split Toning
  • Color (Skintone)
  • Basic (Temperature, Vibrance, Saturation, Constrast, White & Black
  • Sharpening, Noise Reduction, Vignette & Grain, Camera Calibration

Thông thường, mình đẩy 2 đầu nút của kênh RGB theo hướng ngược chiều nhau để tạo độ “ám” cho ảnh và tạo S-Curve cho 2 kênh Red và Blue. Mục đích tạo S-Curve ở kênh Red là để tăng Cyan ở Shadow nhưng không muốn có sự tác động của Cyan đối với Highlight và ở kênh Blue để tạo sự hài hoà, êm dịu giữa Blue và Cyan ở vùng Shadow. Chú ý là chỉ chỉnh ở mức độ vừa phải, đừng có mát ga đưa em nó đi chơi xa quá.

1

2

3

 

Tuỳ vào không gian và bối cảnh để lựa chọn tone màu phù hợp. Quan sát thì có thể thấy bức ảnh có một chút ánh nắng ở hậu cảnh, bối cảnh là một ngày hè nóng nực, có lẽ tone màu ấm sẽ thích hợp hơn. Đối với những ảnh ngoài trời và có ánh nắng, mình sẽ chọn màu cho Highlight ở bảng Split Toning trong khoảng 15-40 (orange -> yellow) và tăng mạnh Saturation. Đồng thời áp dụng luật 180 (Mình học lỏm đc từ mấy thg Tây) cho màu ở thanh Shadow, tức là nếu Hightlight là 15 thì Shadow sẽ là 15 + 180 = 195 hoặc có thể xê dịch đi 1 chút. (Điều này không phải lúc nào cũng đúng, vì có lúc thì mình áp dụng cái này có lúc thì lại theo kiểu tự do v.v.) Cuối cùng điều chỉnh thanh Balance sao cho thấy vừa mắt mình.

5

 

Bước tiếp theo là quay ngược trở lại những gì mình đã thực hiện ở phần Color Correction và làm theo thứ tự sau đây: Temperature -> Constrast -> White & Black (2 cái này hiếm khi mình đụng vào) -> Clarity (10-40 tuỳ ảnh) -> Vibrance & Saturation -> Color (Skintone – điều chỉnh lại màu da của chủ thể)

6

 

Tiếp đến là tăng Sharpness và Noise Reduction cho ảnh. Thường mình giữ 2 thằng này trong khoảng 20-40, đồng thời tăng grain cho ảnh từ 10-20. Bạn chỉ nên thêm vào một chút Vinette tránh tối viền ảnh (Tăng Feather > 70.)

7

 

Và đây là kết quả cuối cùng:

8

 

TET_1808 copy

Khi viết bài này, chính mình cũng đang mơ hồ về những cái mình đang viết. Vẫn có nhiều câu hỏi còn đọng lại mà mình chưa có đủ khả năng trình độ để giải thích một cách cặn kẽ và đầy đủ. Dù bài TUT này vẫn còn mang nặng tính chất chủ quan và chưa thể hiện được cái chất của Cinematic trong các bộ phim Hollywood nhưng hy vọng phần nào giúp được những người mới và có đam mê với thể loại nhiếp ảnh còn khá mới mẻ này.

Trí Nguyễn.

Tri Nguyen

Tri Nguyen

The eye should learn to listen before it looks - Robert Frank